Đêm Tuyết Năm Đó, Tôi Trộm Lấy Một Gia Đình

Chương 15



Nhưng sự rõ ràng ấy không còn làm tôi sợ nữa.

Bởi vì tôi biết, cây gậy nhóm lửa đó sẽ không bao giờ đánh được tôi nữa.

Không ai có thể đối xử với tôi như thế nữa.

Tôi có cha có mẹ rồi.

Họ sẽ bảo vệ tôi.

Tháng chín khai giảng.

Nhà trường yêu cầu mỗi học sinh viết một bài văn theo chủ đề: “Người mà em biết ơn nhất”.

Phần lớn bạn học viết về cha mẹ, viết về thầy cô, viết về bạn bè.

Tôi cũng viết về Mẹ.

Nhưng tôi viết khác.

Tôi viết về một người phụ nữ trong đêm tuyết đã dán giấy tìm người khắp cả nước. Viết về việc bà đã chạy qua hơn hai mươi tỉnh, ngồi vô số chuyến tàu, rơi không biết bao nhiêu nước mắt. Viết về việc bà không từ bỏ suốt năm năm, năm năm không ngủ yên được một giấc.

Viết về việc bà nghe thấy tiếng hô hấp của tôi qua đầu dây điện thoại là khóc thành người lệ rồi.

Viết về lúc bà tắm cho tôi, khăn mặt chạm vào vết sẹo trên lưng tôi, bà khựng lại, một giọt nước mắt rơi lên da tôi, còn nóng hơn cả nước tắm.

Viết về lúc nửa đêm bà ngồi bên giường tôi, nắm tay tôi, nói “Mẹ ở đây”.

Đoạn cuối cùng tôi viết là——

“Mẹ con không phải là người mẹ đẹp nhất, cũng không phải người mẹ giàu nhất. Nhưng mẹ là người mẹ không bỏ cuộc nhất trên thế giới này. Mẹ đã tìm thấy con trong hàng chục nghìn tờ thông báo tìm người, giống như mò kim đáy biển. Con không biết mẹ đã làm được điều đó như thế nào. Nhưng con biết, chính vì mẹ không bỏ cuộc, nên con mới còn sống.”

Thầy Tôn đọc xong bài văn này, ngồi trong văn phòng rất lâu.

Sau đó, thầy đem bài văn này giới thiệu cho báo 《Thai Châu Vãn Báo》.

Báo đã đăng.

Tiêu đề là 《Tôi được mẹ nhặt về từ thùng rác》.

Dùng tên giả.

Nhưng ai trong nhà quen chúng tôi đều biết là ai.

Ngày tờ báo đăng bài, Trần Tú Lan đọc xong thì ôm tờ báo khóc rất lâu.

“Con nhóc này, viết mẹ thành……”

Bà nói không nổi nữa.

Phương Kiến Quốc ở bên cạnh đưa khăn giấy.

“Được rồi được rồi, đừng khóc nữa, xem con gái em viết hay biết bao.”

Bà nội đeo kính lão, đọc bài đó ba lượt.

Đọc đến đoạn cuối, bà tháo kính lão xuống, dùng tay áo lau mắt.

“Cháu gái tôi là đứa có lương tâm.”

19

Năm 2005.

Tôi đã mười bốn tuổi.

Học lớp hai trung học cơ sở, học ở Trường Trung học số Một khu Hoàng Nham.

Thành tích nằm trong top hai mươi của khối. Bức tranh đoạt giải nhì cấp tỉnh. Bài văn thường được thầy giáo ngữ văn lấy ra đọc làm văn mẫu.

Tôi cao hơn rồi, người gầy, tóc cũng để dài, buộc thành đuôi ngựa. Ngón trỏ tay phải vẫn hơi cong, duỗi thẳng hoàn toàn có chút khó khăn, nhưng không ảnh hưởng đến việc viết chữ và vẽ tranh.

Giọng nói đã cơ bản hồi phục, chỉ là nói nhiều sẽ bị khàn.

Diệp Tiểu Đường vẫn là bạn thân nhất của tôi. Cô bé đã lớn thành một cô bé mập mạp, giọng còn rất to, cười một tiếng là cả hành lang đều nghe thấy.

Răng cửa của Hứa Chí Viễn đã mọc đều, chiều cao vọt lên một mét bảy lăm, trở thành trụ cột của đội bóng rổ trường.

Ba chúng tôi cùng lớn lên, từ tiểu học đến trung học cơ sở, như hình với bóng.

Mùa xuân năm đó, bản án chung thẩm của tên buôn người Lưu An đã được tuyên xuống.

Tử hình, hoãn thi hành án hai năm.

Không bị xử ngay lập tức.

Phương Kiến Quốc nghe tin xong, đứng trên ban công suốt một tiếng đồng hồ.

Lúc quay vào, anh nói với Trần Tú Lan: “Hoãn thì hoãn vậy. Ít nhất đời này hắn cũng không ra ngoài được nữa.”

Trần Tú Lan không nói gì.

Bà ngồi trước bàn, trước mặt trải một chồng tờ thông báo tìm người mới nhận được.

Mấy năm nay, bà đã giúp mười một gia đình tìm được những đứa trẻ bị bắt cóc.

Mười một.

Còn nhiều người nữa vẫn chưa tìm thấy.

Từ một người mẹ bình thường, bà đã trở thành một tình nguyện viên chống bắt cóc khá có tiếng ở địa phương Thai Châu. Rất nhiều bậc cha mẹ không tìm được con đều sẽ vòng vo liên hệ với bà, cầu xin giúp đỡ.

Trong điện thoại của bà lưu hơn hai trăm số điện thoại của cha mẹ những đứa trẻ mất tích.

Mỗi số điện thoại phía sau đều là một gia đình tan vỡ.

Đôi khi tôi sẽ giúp bà sắp xếp tài liệu.

Nhập thông tin trên tờ thông báo tìm người vào máy tính — Phương Kiến Quốc bỏ ra mấy nghìn tệ mua một chiếc máy tính Lenovo, chuyên để cho Trần Tú Lan dùng.

Tên, tuổi, thời gian mất tích, địa điểm mất tích, đặc điểm ngoại hình.

Từng dòng từng dòng gõ vào.

Mỗi lần gõ thêm một dòng, trong lòng lại nặng thêm một phần.

Mùa hè năm ấy, tôi đã đưa ra một quyết định.

Tôi muốn viết câu chuyện của mình ra.

Viết một cách đầy đủ.

Từ lúc đi lạc trong công viên, đến khi bị bán tới trấn Liễu Hà, đến lúc nhặt được tờ thông báo tìm người trong thùng rác, đến khi gọi được cuộc điện thoại đó, đến khi được tìm về.

Tất cả.

Tôi đem ý nghĩ này nói với Trần Tú Lan.

Bà im lặng một lúc.

“Con chắc chứ?”

“Chắc ạ.”

“Viết ra sẽ có rất nhiều người nhìn thấy. Quá khứ của con, những vết sẹo đó, đều sẽ bị nhìn thấy.”

“Con biết.”

“Con không sợ à?”

Tôi nghĩ một lát.

“Sợ. Nhưng con thấy nên để nhiều người nhìn thấy hơn. Vẫn còn những đứa trẻ chưa được tìm thấy, bố mẹ chúng vẫn đang trên đường tìm con. Nếu câu chuyện của con có thể khiến một người liếc nhìn đứa trẻ bên cạnh mình thêm một lần, vậy là đủ rồi.”

Trần Tú Lan nhìn tôi, mắt bà đỏ hoe.

“Con lớn thật rồi.”

Tôi đã dùng cả mùa hè để viết bài viết đó.

Viết rồi sửa, sửa rồi viết.

Có những đoạn vừa viết vừa khóc, lau khô nước mắt rồi tiếp tục viết.

Có những đoạn viết đến mức tay run lên, hít sâu mấy lần rồi viết tiếp.

Viết về những ngày ở trấn Liễu Hà, viết về cái tát của mẹ kế và cây củi nhóm lửa, viết về bóng tối trong căn phòng củi và vết máu trên rơm khô.

Viết về đêm đông trong thùng rác đó, viết về cô bé mặc áo bông đỏ trên tờ thông báo tìm người.

Viết về đồng xu năm hào ném vào điện thoại công cộng.

Viết về người phụ nữ đầu dây bên kia khàn giọng gọi “Niếp Niếp”.

Viết về bát mì canh gừng đầu tiên, bộ quần áo mới đầu tiên, lần đầu tiên được ôm, lần đầu tiên nghe thấy “Mẹ ở đây”.

Viết về từ đầu tiên tôi thốt ra: Mẹ.

Đêm hôm viết xong, tôi một mình ngồi trước bàn học, nhìn chồng bản thảo dày đặc kín chữ.

Hơn một vạn chữ.

Mười bốn năm cuộc đời, bị nén lại thành hơn một vạn chữ.

Rất nhiều thứ không thể viết ra, còn những gì viết được cũng chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.

Nhưng vậy là đủ rồi.

Bài viết được gửi cho biên tập của báo 《Thai Châu Vãn Báo》.

Biên tập gọi điện đến hỏi, dùng tên thật hay bút danh.

Tôi nói, dùng tên thật.

Phương Viên Viên.

Tên của tôi.

Sau khi bài viết được đăng, nó còn được mấy tờ báo khác đăng lại, còn có một trang web đăng toàn văn.

Thời đó Internet mới bắt đầu phát triển, tốc độ lan truyền không nhanh như bây giờ, nhưng vẫn gây ra một chút chú ý.

Có người gọi điện đến tòa soạn, nói đã đọc bài viết và rất cảm động.

Có người viết thư đến, nói mình cũng là phụ huynh của một đứa trẻ bị bắt cóc, vẫn đang tìm con.

Có một lá thư khiến tôi nhớ rất sâu.

Thư rất ngắn, viết bằng bút bi trên một tờ giấy làm bài tập, nét chữ ngoằn ngoèo méo mó.

“Chị Phương Viên Viên, em tên là Lý A Minh, năm nay mười một tuổi. Em ba tuổi đã bị người ta trộm khỏi nhà, bây giờ đang ở nhà một chú không quen. Chú ấy đánh em, không cho em đi học. Em nhặt được tờ báo đăng bài viết của chị trong đống rác. Em cũng muốn về nhà. Nhưng em không biết nhà ở đâu. Chị có thể giúp em không?”

Tôi cầm lá thư đó, tay run lên.

Trần Tú Lan  xem xong, lập tức gọi điện cho tòa soạn báo.

“Lá thư được gửi từ đâu tới? Địa chỉ gửi lại là ở đâu?”

Một thị trấn nhỏ nào đó ở Quảng Tây.

Bà lại gọi điện cho đồn công an địa phương.

Một tuần sau, Lý A Minh được cảnh sát đưa đi.

Người mua cậu ta bị tạm giam.

Ba tháng sau nữa, thông qua đối chiếu ADN, tìm được cha mẹ ruột của cậu.

Ở Hồ Nam.

Ba mẹ cậu đã tìm cậu suốt tám năm.

Tám năm.

Bài báo của tôi, thật sự đã giúp được một người.

Một người giống như tôi, ngồi xổm trong bóng tối chờ ánh sáng.

 

20

Năm 2008.

Tôi mười bảy tuổi.

Học lớp 11.

Trên tường trường học dán bảng đếm ngược kỳ thi đại học.

Mục tiêu của tôi là thi vào trường mỹ thuật.

Thầy Phùng nói tranh tôi có linh khí, rất hợp đi theo con đường chuyên nghiệp.

Trần Tú Lan nói: “Con thích gì thì thi cái đó, Mẹ ủng hộ con.”

Phương Kiến Quốc nói: “Thi đậu thì ba sẽ mời con ăn cá vàng lớn.”

Bà nội nói: “Cháu gái của bà chắc chắn sẽ thi đậu.”

Mùa thu năm đó, Thái Châu có một trận mưa to kéo dài ba ngày.

Hệ thống thoát nước ở khu phố cũ không chịu nổi, mấy con phố đều bị ngập.

Nhà chúng tôi ở tầng ba, không bị ảnh hưởng, nhưng nước dưới lầu đã dâng lên tới đầu gối.

Phương Kiến Quốc đi ủng ướt lội nước đến cửa hàng kim khí xem tình hình, quay về nói kho hàng bị ngấm nước, thiệt hại mất một ít hàng.

Sắc mặt ông không được tốt lắm, nhưng không nổi giận.

Lúc ăn tối, ông vẫn gắp thức ăn vào bát tôi như thường.

“Ăn no rồi học cho tử tế, đừng lo mấy chuyện đó.”

Ngày hôm sau, sau khi mưa tạnh, Trần Tú Lan nhận được một cuộc điện thoại.

Là cha mẹ của một đứa trẻ mất tích gọi tới.

Đứa trẻ đã mất tích ba năm, vẫn luôn không có tin tức. Gần đây có người cung cấp một manh mối, nói đã thấy một cậu bé trông rất giống ở Thái Châu, Chiết Giang.

Trần Tú Lan ghi lại manh mối, bắt đầu liên hệ với tình nguyện viên địa phương để xác minh.

Đêm đó, bà ngồi trước máy tính đến hai giờ sáng.

Tôi bưng một cốc nước nóng đặt bên tay bà.

Bà ngẩng đầu nhìn tôi, cười một cái.

“Con đi ngủ trước đi, ngày mai còn phải đi học.”

Tôi không đi.

Ngồi xuống bên cạnh bà.

“Mẹ.”

“Hử?”

“Mẹ cũng phải chú ý sức khỏe.”

Bà khựng lại một chút, sau đó đưa tay xoa đầu tôi.

“Biết rồi, cô quản gia nhỏ.”

Tôi về phòng nằm xuống, nghe tiếng gõ bàn phím ở phòng bên cạnh vẫn còn vang.

Cộc cộc cộc cộc.

Một người mẹ trong đêm khuya, đang gõ bàn phím vì đứa trẻ của một người mẹ khác.

Bởi vì bà biết cảm giác không tìm thấy con là như thế nào.

Bà không muốn người khác cũng phải dày vò như vậy.

Ba ngày sau, manh mối được xác minh.

Cậu bé đó quả thật là đứa trẻ bị thất lạc.

Cậu bị một đôi vợ chồng không thể sinh con mua về, đổi tên, nhập hộ khẩu tại địa phương.

Cảnh sát vào cuộc, đối chiếu ADN xác nhận thân phận.

Cha mẹ ruột của đứa trẻ từ Quý Châu chạy tới Thái Châu.

Lúc nhận thân, Trần Tú Lan cũng có mặt.

Tôi đứng sau lưng bà, nhìn cặp cha mẹ ôm con mà khóc.

Đứa trẻ đã chín tuổi rồi. Lúc thất lạc mới chỉ sáu tuổi.

Ba năm.

Đường về nhà, Trần Tú Lan đi rất chậm.

Bà nắm tay tôi, bước trên con phố lúc chiều muộn.

Đèn đường đã sáng, ánh sáng màu cam phủ xuống mặt đất.

“Niếp Niếp.”

“Dạ.”

“Sau này con muốn làm gì?”

“Vẽ tranh.”

“Ngoài vẽ tranh ra thì sao?”

Tôi nghĩ một lát.

“Giúp mẹ tìm những đứa trẻ chưa về nhà.”

Bước chân bà khựng lại một chút.

Rồi lại tiếp tục đi.

Bàn tay nắm tôi càng siết chặt hơn.

“Được.”

Chỉ một chữ.

Chúng tôi nắm tay đi trên đường về nhà, bóng in dưới ánh đèn đường kéo rất dài.

Một lớn một nhỏ, tay nắm tay.

Như một bức tranh.

Mùa hè năm 2009, tôi tham gia kỳ thi đại học.

Đề văn tiếng Trung là 《Con đường》.

Tôi viết về một con đường.

Từ thùng rác ở trấn Liễu Hà, đến mái nhà ở Thai Châu.

Từ Tần Tiểu Mai, đến Phương Viên Viên.

Từ câm lặng đến mở miệng.

Từ một người đến một gia đình.

Từ bị bỏ rơi đến được tìm thấy.

Từ bóng tối đến ánh sáng.

Trên con đường này có rất nhiều người.

Có một cô bé run bần bật vì lạnh giữa trời tuyết.

Có một tờ thông báo tìm người lẫn trong đống rác.

Có một đồng năm hào.

Có một người phụ nữ ở đầu dây bên kia vừa khóc vừa gọi “Niếp Niếp”.

Có một bát mì canh gừng nóng hổi.

Có một chiếc đèn ngủ nhỏ màu cam.

Có một con thỏ tai dài màu hồng.

Có một câu “Mẹ ở đây”.

Trên con đường này không có kỳ tích.

Chỉ có một người mẹ không chịu từ bỏ, và một đứa trẻ liều mạng muốn sống.

Thế là đủ rồi.

Ngày công bố điểm thi đại học, Phương Kiến Quốc dậy từ rất sớm đi mua một con cá vàng lớn.

Ông từng nói rồi, đỗ đại học thì sẽ đãi tôi ăn cá vàng lớn.

Tôi đỗ rồi.

Học viện Mỹ thuật Trung Quốc.

Tối hôm đó cả nhà quây quanh bàn ăn cơm.

Cá vàng lớn, sườn xào chua ngọt, gà luộc nguyên con, bánh gạo xào, cơm bát bảo.

Còn có một nồi mì canh gừng lớn. Giống hệt bữa cơm tất niên mười năm trước.

Phương Kiến Quốc mở một bình hoàng tửu, rót cho mỗi người một chén.

“Cạn vì Niếp Niếp.” Ông nâng chén lên, “Niếp Niếp của chúng ta, giỏi lắm.”

Trần Tú Lan nâng chén, cười mà nước mắt cứ lưng tròng.

Kính lão của bà nội cũng mờ đi vì hơi nước, bà lau lau rồi cũng nâng chén.

“Cháu gái tôi đỗ đại học rồi, đúng là tổ tiên nhà họ Phương phù hộ.”

Tôi nâng chén lên. Vị hoàng tửu ngòn ngọt, ấm ấm, theo cổ họng trôi xuống đến tận dạ dày.

“Ba, mẹ, bà, cảm ơn mọi người.”

Giọng tôi vẫn hơi khàn.

Mười năm rồi, vẫn khàn như thế.

Có lẽ cả đời này tôi cũng sẽ mang theo chút khàn ấy.

Nhưng không sao.

Đó là cách tôi nói chuyện.

Là dấu ấn mà Tần Tiểu Mai để lại cho Phương Viên Viên.

Nhắc tôi nhớ kỹ con đường mình đã đi qua.

Ăn cơm xong, tôi trải giấy vẽ ra trên bàn học.

Cầm bút lên, vẽ bức tranh cuối cùng.

Trong tranh là một đêm đông, tuyết rơi ngập trời.

Trong một thùng rác bằng tôn, có một cô bé đang ngồi co ro.

Trong tay cô bé nắm chặt một tờ thông báo tìm người nhà nhăn nhúm.

Đôi mắt cô bé rất sáng.

Trong cơn tuyết lớn mịt mùng, đôi mắt ấy sáng lên như hai vì sao.

Ở góc bức tranh có viết một hàng chữ.

“Gửi đến mỗi người mẹ vẫn còn trên đường, và mỗi đứa trẻ vẫn đang chờ đợi: đừng bỏ cuộc. Sẽ có người đến tìm các con.”

Tôi đóng khung bức tranh ấy lại, treo lên tường trong phòng mình.

Con thỏ màu hồng vẫn còn ở bên cạnh gối.

Đèn ngủ nhỏ vẫn là thứ ánh sáng màu cam ấm áp.

Thế giới ngoài cửa sổ rất rộng, con đường rất dài.

Nhưng tôi không còn sợ nữa.

Bởi vì phía sau tôi có nhà.

Có một bát mì canh gừng đang đợi tôi.

Có một giọng nói đang bảo:

“Niếp Niếp, Mẹ ở đây.”

Vẫn luôn ở đây.

 

[ Hết ]

Chương trước
Loading...